BỆNH VẢY NẾN

TRIỆU CHỨNG, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ

(Psoriasis)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da khá phổ biến ở Việt Nam, có biểu hiện rõ nhất là các sẩn và mảng đỏ, ranh giới bao phủ bởi các vẩy da trắng bạc rõ. Các tác nhân thường gặp dẫn đến Vảy nến bao gồm chấn thương, nhiễm trùng và một số loại thuốc. Các triệu chứng thường ít, nhưng ngứa nhẹ đến nặng có thể xảy ra. Ảnh hưởng đến thẩm mỹ là vấn đề lớn của bệnh Vẩy nến, thường gặp nhất ở đầu gối, khuỷu tay, thân mình và da đầu. Tình trạng này có xu hướng diễn biến theo chu kỳ, bùng phát trong vài tuần hoặc vài tháng, sau đó giảm bớt một thời gian,…Cùng Codupha tìm hiểu rõ hơn về bệnh Vẩy nến nhé!

1. BỆNH VẢY NẾN LÀ GÌ?

Vảy nến là bệnh mạn tính, tiến triển từng đợt, dai dẳng, căn nguyên của bệnh chưa rõ. Bệnh thường gặp ở Việt Nam và các nước trên thế giới. Tỷ lệ bệnh vảy nến chiếm khoảng 2-3% dân số tùy theo từng khu vực. Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2010, tỷ lệ bệnh nhân vẩy nến chiếm khoảng 2,2% tổng số bệnh nhân đến khám bệnh.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh vảy nến đa dạng, ngoài thương tổn da còn có thương tổn niêm mạc, móng và khớp xương. Do ảnh hưởng của thuốc điều trị, hình ảnh lâm sàng của bệnh thay đổi, nhiều trường hợp khó chẩn đoán.

2. NGUYÊN NHÂN:

Căn nguyên của bệnh vảy nến chưa rõ. Người ta cho rằng bệnh vảy nến có liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền, thương tổn bùng phát khi gặp những yếu tố thuận lợi.

– Yếu tố di truyền: bệnh vảy nến thường gặp ở những người có HLA-B13, B17, BW57 và CW6. Đặc biệt gen HLA-CW6 gặp ở 87% bệnh nhân vảy nến.

– Cơ chế miễn dịch: người ta nhận thấy có sự thay đổi miễn dịch ở bệnh vẩy nến. Các tế bào miễn dịch được hoạt hóa tiết các hoạt chất sinh học có tác dụng thúc đẩy tăng sinh, làm rối loạn quá trình biệt hóa tế bào sừng.

– Các yếu tố như stress ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần; tiền sử bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính, bị chấn thương, nhiễm khuẩn hoặc sử dụng thuốc. Đặc biệt là đối với các bệnh nhân đã dùng các đông, nam dược không rõ nguồn gốc, không rõ thành phần và chưa được đánh giá hiệu quả trong điều trị bệnh; bệnh nhân có tiền sử rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa hoặc nghiện rượu.

3. PHÂN LOẠI VẢY NẾN:

  • Bệnh vảy nến mảng bám. Loại bệnh vảy nến phổ biến nhất, bệnh vảy nến mảng bám gây ra các mảng da khô, ngứa, nổi lên (mảng) phủ đầy vảy. Có thể có ít hoặc nhiều. Chúng thường xuất hiện ở khuỷu tay, đầu gối, lưng dưới và da đầu. Các mảng có màu sắc khác nhau, tùy thuộc vào màu da. Vùng da bị ảnh hưởng có thể lành lại với những thay đổi tạm thời về màu sắc (tăng sắc tố sau viêm), đặc biệt là trên da nâu hoặc đen.
  • Bệnh vảy nến móng tay. Bệnh vảy nến có thể ảnh hưởng đến móng tay và móng chân, gây ra các vết rỗ, móng phát triển bất thường và đổi màu. Móng tay bị vảy nến có thể lỏng ra và tách ra khỏi nền móng (nấm móng). Bệnh nặng có thể khiến móng bị gãy.
  • Bệnh vảy nến thể giọt. Bệnh vảy nến thể giọt chủ yếu ảnh hưởng đến người trẻ tuổi và trẻ em. Nó thường được kích hoạt bởi nhiễm trùng do vi khuẩn như viêm họng liên cầu khuẩn. Nó được đánh dấu bằng các đốm vảy nhỏ, hình giọt nước trên thân, cánh tay hoặc chân.
  • Bệnh vảy nến nghịch đảo. Bệnh vảy nến nghịch đảo chủ yếu ảnh hưởng đến các nếp gấp da ở háng, mông và ngực. Nó gây ra các mảng da bị viêm mịn màng, trở nên trầm trọng hơn do ma sát và đổ mồ hôi. Nhiễm nấm có thể gây ra loại bệnh vẩy nến này.
  • Bệnh vảy nến mủ. Bệnh vảy nến mủ, một loại hiếm gặp, gây ra các mụn nước có mủ rõ ràng. Nó có thể xảy ra ở các mảng rộng rãi hoặc trên các vùng nhỏ ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân.
  • Bệnh vảy nến Erythrodermic. Loại bệnh vảy nến ít phổ biến nhất, bệnh vảy nến đỏ da có thể bao phủ toàn bộ cơ thể với các vết phát ban bong tróc có thể ngứa hoặc bỏng dữ dội. Nó có thể tồn tại trong thời gian ngắn (cấp tính) hoặc dài hạn (mãn tính).
Phân loại bệnh vảy nến

4. BIỂU HIỆN:

Thương tổn da: điển hình là những dát đỏ, giới hạn rõ với da lành, trên dát phủ vảy da dễ bong. Đặc điểm của dát thường có màu đỏ hoặc hồng, số lượng thay đổi, kích thước khác nhau, ranh giới rõ với da lành, hình tròn hoặc bầu dục, hoặc hình nhiều vòng cung, ấn kính mất màu, sờ mềm, không thâm nhiễm, không đau. Vị trí thương tổn thường ở chỗ tỳ đè, vùng hay bị cọ sát như khuỷu tay, đầu gối, mấu chuyển, mặt duỗi các chi, chỗ bị sang chấn hay vết bỏng, sẹo, vết cào gãi gọi là dấu hiệu Koebner. Thương tổn có khuynh hướng đối xứng. Đặc điểm của vảy da là khô, gồm nhiều lớp xếp chồng lên nhau, độ dầy không đều, dễ bong, màu trắng đục như xà cừ, phủ kín toàn bộ dát đỏ hoặc phủ một phần, thường để lại vùng ngoại vi.

Cạo vảy theo phương pháp của Brocq: dùng thìa nạo cùn (curette) cạo trên thương tổn vảy nến từ vài chục đến hàng trăm lần thì thấy đầu tiên là vảy da bong thành lát mỏng có màu trắng đục. Tiếp tục cạo sẽ thấy một màng mỏng bong ra (gọi là màng bong). Dưới lớp màng bong bề mặt đỏ, nhẵn, bóng, có những điểm rớm máu gọi là hạt sương máu (dấu hiệu Auspitz).

Thương tổn móng: chiếm khoảng 30-50% tổng số bệnh nhân vảy nến, thường kèm với thương tổn da ở đầu ngón hoặc rải rác ở toàn thân. Nếu chỉ có thương tổn móng đơn thuần thì khó chẩn đoán, phải sinh thiết móng. Thương tổn móng có thể là những chấm lõm ở mặt móng (dạng cái đê khâu) hoặc những vân ngang; móng mất trong, có những đốm trắng hoặc thành viền màu vàng đồng; bong móng ở bờ tự do; dày sừng dưới móng cùng với dầy móng và mủn; có thể biến mất toàn bộ móng để lại giường móng bong vảy sừng. Ở vảy nến thể mủ thấy các mụn mủ dưới móng hoặc xung quanh móng.

Thương tổn khớp: chiếm khoảng 10-20% tổng số bệnh nhân vảy nến. Biểu hiện là đau các khớp; hạn chế và viêm một khớp; viêm đa khớp vảy nến, hình ảnh lâm sàng giống viêm đa khớp dạng thấp; viêm khớp cột sống vảy nến hiếm gặp hơn so với viêm đa khớp. Thể này rất khó phân biệt với viêm cột sống dính khớp. Hình ảnh X-quang thấy hiện tượng mất vôi ở đầu xương, hủy hoại sụn, xương, dính khớp.

Thương tổn niêm mạc: thường gặp ở niêm mạc qui đầu. Đó là những vết màu hồng, không thâm nhiễm, giới hạn rõ, ít hoặc không có vảy, tiến triển mạn tính. Ở lưỡi thương tổn giống viêm lưỡi hình bản đồ hoặc viêm lưỡi phì đại tróc vảy; ở mắt biểu hiện viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm mí mắt.

Chẩn đoán xác định dựa vào:

– Thương tổn da: dát đỏ giới hạn rõ với da lành, trên dát phủ vảy trắng dễ bong.

– Cạo vảy theo phương pháp Brocq dương tính.

– Hình ảnh mô bệnh học (khi thương tổn lâm sàng không điển hình).

5. ĐIỀU TRỊ

a) Điều trị vảy nến gồm hai giai đoạn:

  • Giai đoạn tấn công có thể lựa chọn các phương pháp điều trị tại chỗ, toàn thân hoặc phối hợp các phương pháp điều trị nhằm xóa sạch thương tổn.
  • Giai đoạn duy trì sự ổn định, giữ cho bệnh không bùng phát. Tư vấn cho bệnh nhân hiểu rõ về bệnh vảy nến, phối hợp với thầy thuốc khi điều trị cũng như dự phòng bệnh bùng phát.

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu để chữa khỏi hoàn toàn bệnh vảy nến. Nếu vận dụng và phối hơp tốt các phương pháp điều trị có thể duy trì được sự ổn định của bệnh, hạn chế được các đợt bùng phát, cải thiện được chất lượng cuộc sống người bệnh.

b) Các thuốc điều trị tại chỗ:

– Lựa chọn trong số các loại thuốc bôi sau:

  • Dithranol, anthralin: điều trị tấn công hoặc điều trị củng cố, rất có hiệu quả đối với bệnh vảy nến thể mảng, đặc biệt ở những trường hợp chỉ có một vài mảng thương tổn lớn.
  • Salicylic acid đơn thuần hay được sử dụng ở Việt Nam, thuốc có tác dụng bạt sừng, bong vảy,. Salicylic acid kết hợp với corticoid vừa có tác dụng bạt sừng vừa chống viêm, bôi ngày 2 lần.
  • Calcipotriol là một dẫn chất của vitamin D3, dạng thuốc mỡ, điều trị bệnh vảy nến thể thông thường, bôi ngày 2 lần, liều tối đa không quá 100mg/tuần, bôi dưới 40% diện tích da cơ thể.
  • Calcipotriol kết hợp với corticoid, bôi ngày 1 lần, dùng điều trị tấn công, dạng gel dùng điều trị vảy nến da đầu, dạng mỡ dùng điều trị vảy nến ở thân mình.
  • Vitamin A axít dùng tại chỗ, dạng đơn thuần hoặc dạng kết hợp với corticoid. Trong điều trị vảy nến thể mảng, thuốc được bôi ngày 1 lần. Có thể có các tác dụng phụ như kích ứng, đỏ da, bong da nhẹ.
  • Kẽm oxýt tác dụng làm dịu da, giảm kích ứng, sử dụng kết hợp với các thuốc bạt sừng bong vảy mạnh.
  • Corticoid tại chỗ được bôi ngày 1 đến 2 lần, dùng điều trị tấn công, tác dụng điều trị nhanh nhưng dễ tái phát sau ngừng thuốc, dùng kéo dài có thể gặp các tác dụng không mong muốn, cần phải giảm liều.
Điều trị vảy nến bằng kem bôi da chứa Corticoid

– Quang trị liệu (phototherapy)

+ UVA (320-400nm), tuần chiếu 3 lần hoặc 2 ngày chiếu 1 lần.

+ UVB (290-320nm) ngày nay ít sử dụng, được thay thế dần bằng UVB dải hẹp (UVB-311nm, UVB-Narrow Band), có hiệu quả điều trị hơn và hạn chế được tác dụng không mong muốn.

+ PUVA (Psoralen phối hợp UVA): meladinin 0,6 mg/kg uống 2 giờ trước khi chiếu UVA, liều UVA tăng dần từ 0,5 đến 1 J/cm2.

c) Toàn thân

– Methotrexat: tác dụng chống chuyển hóa do ức chế quá trình khử acid folic cần thiết cho tổng hợp acid nucleic và acid amin ở tế bào, điều trị đỏ da toàn thân do vảy nến, vảy nến thể mủ toàn thân, vảy nến thể mảng lan rộng. Cần theo dõi chức năng gan khi dùng thuốc kéo dài.

– Acitretin, dẫn chất của vitamin A, tác dụng điều hòa quá trình sừng hóa, điều trị các thể vảy nến nặng.

– Cyclosporin: tác dụng ức chế miễn dịch, điều trị những thể vảy nến nặng.

Các thuốc trên có nhiều tác dụng phụ như gây quái thai, rối loạn chức năng gan, thận, giảm bạch cầu,… Vì vậy, phải thận trọng khi chỉ định và phải theo dõi nghiêm ngặt trong quá trình điều trị.

– Corticoid: sử dụng khi thật sự cần thiết và phải cân nhắc lợi, hại. Không nên lạm dụng và dùng kéo dài vì sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm, đặc biệt gây đỏ da toàn thân, vảy nến thể mủ.

– Sinh học trị liệu (biotherapy) điều trị bệnh vảy nến hiệu quả như: ustekinumab ức chế IL-12, IL-23; secukinumab ức chế IL17 do Th17 tiết ra; etanercept; alefacept; infliximab.

– Nâng cao thể trạng: các vitamin B12, C,…

6. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

a) Tiến triển

Bệnh tiến triển từng đợt, xen kẽ những đợt bùng phát là thời kỳ tạm lắng. Khi thương tổn biến mất hoàn toàn gọi là “vảy nến yên lặng”. Khi chỉ còn một vài mảng thương tổn khu trú ở vị trí nào đó, tồn tại dai dẳng trong nhiều tháng, nhiều năm gọi là “vảy nến ổn định”. Vì vậy, khi sạch thương tổn da cũng không thể coi là bệnh đã khỏi hoàn toàn.

b) Biến chứng

– Bệnh diễn biến lâu ngày có thể gây chàm hóa, lichen hóa, bội nhiễm. Ung thư da hiếm gặp.

– Đỏ da toàn thân.

– Vảy nến thể khớp có thể làm biến dạng khớp, cứng khớp, nhất là cột sống.

7. DỰ PHÒNG

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu nào chữa khỏi hoàn toàn bệnh vảy nến.

Nếu vận dụng và phối hơp các phương pháp điều trị một cách hợp lý, tư vấn cho người bệnh hiểu về bệnh vảy nến để tuân thủ các chỉ định điều trị của thầy thuốc và thực hiện chế độ sinh hoạt điều độ, tránh những yếu tố khởi động thì có thể duy trì được sự ổn định của bệnh, hạn chế được các đợt bùng phát, cải thiện được chất lượng cuộc sống.

Tài liệu tham khảo:

  1. Psoriasis in Skin of Color: Insights into the Epidemiology, Clinical Presentation, Genetics, Quality-of-Life Impact, and Treatment of Psoriasis in Non-White Racial/Ethnic Groups. Am J Clin Dermatol 19(3):405-423, 2018 doi: 10.1007/s40257-017-0332-7
  2. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh da liễu – Chương 6. Mục 34. Bệnh Vảy Nến – Quyết định số 75/QĐ-BYT ngày 13/01/2015.
  3. Psoriasis – symptoms and cause – Mayo Clinic. (2022, October 8). https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/psoriasis/symptoms-causes/syc-20355840
  4. https://www.nhs.uk/conditions/psoriasis/causes/

Tin cùng chuyên mục

CODUPHA – SEPTODONT THAM GIA TRƯNG BÀY SẢN PHẨM TẠI HỘI NGHỊ HAIDEC DIỄN RA TỪ NGÀY 23/05/2024 ĐẾN NGÀY 25/05/2024

CODUPHA – SEPTODONT THAM GIA TRƯNG BÀY SẢN PHẨM TẠI HỘI NGHỊ HAIDEC DIỄN RA TỪ NGÀY 23/05/2024 ĐẾN NGÀY 25/05/2024

BỆNH VẢY NẾN

BỆNH VẢY NẾN

VIÊM NHA CHU MÃN TÍNH (CHRONIC PERIODONTITIS)

VIÊM NHA CHU MÃN TÍNH (CHRONIC PERIODONTITIS)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *